ĐÔI MẮT BUỒN HIU

1.Ừ, tôi đã thấy đôi mắt đó một lần - một lần trong nỗi đau tình cờ cúi mặt, nơi sân của một nhà ga bé nhỏ hẹn hò . Buồn và xa xăm . Ướt đẫm muộn phiền, pha một chút long lanh, nhưng không phải long lanh từ số kiếp của những vì sao, mà là dấu chứng của những khoảng đời không trọn . Ngấn lệ xưa còn đó, mà mùa Xuân dường như đã mất hút phương trời...

2.Ai đã đọc được cuộc đời em từ dạo đó, để từng đêm, từng đêm trong chuyến tàu khuya qua con phố vắng, nghe lao xao những nỗi nhớ không ngờ. Giọt nước mắt nào xóa đi cơn thống hối chập chùng, muốn xin cho "H. ngày xưa" những xót thương oan khuất nguôi ngoai, từng ngồi mân mê những vết đau trên ghê' đá sương mù, tiếp nối dòng lệ sa, - thực ra đã ướt đẫm cuộc đời từ một nơi rất xa, gọi là "Quê hương trong trí nhớ", khi tôi vẫn mãi là người lính biên thùy về phép, mang trái tim rách nát, đi bên cạnh một người xa xôi - đồng nghĩa với ca'ch lấp đầy khoảng trống trong hồn, hầu quên đi dáng xưa, mà tôi đã lỡ trao tập Thơ viết tay lần đầu của những tháng ngày mới lớn...

3.Em đã khóc hộ tôi, khóc hộ người, khóc hộ chính mình, như thể đang hóa thân thành nhân vật của tôi - người có đôi mắt buồn như em mà tôi đã gửi những xót xa trong đó. Ai bảo em có đôi mắt ướt làm chi, nên em phải gánh thêm những nỗi đau kẻ khác. Sao em lại gặp tôi làm gì, để chào nhau bằng những nụ cười buồn, mà dường như có chút rưng-rưng trong khóe mắt?

4.Thôi, em hãy vuốt mặt giùm tôi, để cho tôi quên đi quá khứ, và hãy lau mắt giùm em, để cho tôi thấy tôi còn ở trong em, với nỗi bình an gần gũi. Trái tim em là bầu trời quá lớn, chứa nỗi đau tôi dai dẳng không rời! Và, từ đó, tôi thấy mình nhỏ bé, mà em là chiếc bóng râm che mát cuộc đời.Em hiện hình trong đôi mắt của Mẹ tôi, cũmng đã ướt đầm những dòng lệ tủi!Ngày gặp em lần đầu trong mắt, sao gửi lại nhau chi những quay quắt không cùng...

5.Em đến giữa cuộc đời tôi trống vắng, mùi đạn bom còn lẩn khuất đâu đây. Trái tim đau giấu hoài không dám nhớ, bởi sợ lòng người đôi khi đổi thay! Chiếc "chăn" nào mà em mơ sưởi ấm, đắp xuống nỗi lòng ai, mà em thở than?Tôi vốn lạnh từ những tháng ngày chưa kịp lớn, khi tự đánh cá cuộc đời mình bằng những bước chân hoang...

6.Sao em lại cho tôi đôi bờ mắt thẳm, chứa chấp nỗi muộn phiền múc cạn lòng nhau. Và, tôi biết rồi đây không chừng em sám hối, bởi lỡ trao người những ray-rứt không thôi! Dù Định mệnh có muôn vàn ngăn lối, nhưng lối nào là lối để tìm nhau, và lối nào là lối dẫn đến thương đau, mà cuối đường tôi trở thành người chịu đựng!?

7.Ai cũng muốn cuộc đời xanh hương ấm, nên họ bước vào nhau với đôi cánh tay mềm, để từ đó có thể tìm lời yêu thương nồng thắm, nhưng biết đâu họ sẽ như những chiếc lá rụng bên thềm. Lá bay đi thì gió ngồi nhớ lá, lá bay về khi gió đã trôi xa, bởi dù gió có muôn đời chờ lá, thì lá cũng vàng bay theo bóng Thu qua...

8.Em như gió bay mù cõi Bắc, rồi về Nam tôi biết tìm đâu?Nhưng đôi mắt em vẫn trụ hoài trong trí nhớ , móc trái tim ra đau buốt nỗi lòng. Em đã gửi cho tôi một buổi chiều êm nắng, nhét vào bên trong những hạt lệ xanh. Hai tay ôm giấc mơ lành, tôi đem cất giấu mong thành tình nhau. Tôi cố nuôi trái tim mình khôn lớn, mà thức ăn là những khoan dung, dỗ dành từng đêm với những lời mật ngọt để giữ những nhịp đập hài hòa, hài hòa với cuộc đời, với em và với cả chính tôi - một con ngựa hoang trên lưng còn in vết thương hằn...

9.Tôi vẫn nhớ một ngày em đến, thăm nuôi tôi bằng trái tim hồng. Tôi khập khễnh đón người đầu ngõ, nghe vết đạn xưa rạn nứt trong lòng. Rồi từ đó tôi nhốt em trong ngăn tâm thất, đính phụ thêm đôi mắt buồn hiu. Những khi nắng xuống trong chiều, lòng tôi chợt nhớ em nhiều hơn xưa...

10. Thôi, đã nợ nần nhau ngần này chia sớt. Trời đã bắt em nhỏ lệ vào trong. Nỗiđau chảy xuống thành dòng, vô tình thấm ướt nỗi lòng "người dưng". Dù "khác họ" hay không cũng thế, đến được nhau bằng trái tim đau, vẫn là gặp gỡ nhiệm màu, nên tôi muốn tạ ơn ngày thương em. Tạ ơn tôi còn Niềm tin.Tạ ơn em nhiều - nên xin: Dù trong ngăn cách cũng còn có nhau, bởi đời là những cơn đau...


Nguyễn Tư

 

NẮNG HỒNG

 

*“Nắng có hồng bằng đôi môi em ?”(TCS)

 

*Tùy bút Nguyễn-Tư

 

Mùa thu đã về trên những ngọn cây sao trong công viên thành phố . Lá vàng, biểu lộ cho sự tàn phai mất-mát, cuối cùng. Những sợi nắng lao-xao trên những bờ tường cũng  màu vàng, loang-lổ những tấm bích-chương rách nát dán chồng lên nhau làm rõ nét một ý-niệm về thời-gian: Hôm qua , bây giờ và ngày mai… Tất cả đều hiện lên trên một khoảng tường gạch rong-rêu, cuộc đời trải ra ở đó, mà ít ai quan-tâm tới. Người ta vẫn thản-nhiên sống , thản-nhiên thở, thản-nhiên nói cười… Như làn gió thản-nhiên thổi lập-lờ qua ngọn cây sao… Từng mảnh lá vàng thủng nhiều lỗ bay-bay… cuốn trên mặt lộ. Tôi đứng cạnh một công-viên nói chuyện với một người bạn về giờ giấc ở đây và sự trễ-tràng của những thói quen bắt nguồn từ một quan-niệm sống nhiều hơn là những con số ghi trên giấy tờ.Trời hơi lạnh. Nắng hồng. Người bạn chợt cười nói với tôi trong nỗi reo vui:

 

-Kìa , tới kìa.

-Ừa , khác.

 

Chiếc áo màu hồng nhạt, sọc trắng, jupe ngắn cùng màu, nụ cười tươi như hoa, tung- tăng với đôi chân chim như một thời quên lãng sương mù ở năm mới vừa 20 tuổi. Dốc Bùi -Thị-Xuân áo ấm xanh da trời ôm cặp che nghiêng nửa mặt:

 

-Tới đây bao giờ?

-Sớm! Định về vì thấy chẳng có ai!

-Trời! Sao vậy?

-Ừa, đẹp .

-Thôi mà!

-Trẻ thơ.

-“Thơ” gì nữa!

-Mignone.

-Tội em mà!

-Thật.!

 

Giá-Băng mỉm cười, cúi xuống lặng thinh, đôi tay nắm chặt chiếc xắc tay buông lỏng. Đôi mắt long-lanh rồi cười lặng-lẽ. Nắng hồng reo vui. Sợi tóc bay-bay thần-thoại. Hàm răng thực đều, đôi mắt có đuôi, ngước lên cúi xuống  -  cười bâng-quơ…Tất cả đều hồng kể cả nỗi lòng của sáng hôm nay. Tôi nghĩ thế.   Xe chạy gập-ghềnh qua những khu rừng quanh co giống con đường đèo xuyên Việt.Nhớ thực nhiều những đêm trăng dải trên đỉnh Cù-Mông, gối ba-lô nhìn trời, cây súng M16 gác ngang nơi ngực,phập-phồng theo nhịp nhảy của con tim, nghêu-ngao hát rằng:

   

 “Vua Lê dắt lính vô trung

  Anh theo Chúa Nguyễn vượt Cù-Mông anh qua đèo…”

………………………………………………………

“ Đèo núi cao trong  gió vi-vu …”

 

 Mối tình đẹp như Thơ cửa người con gái út vua Lê-Hiển-Tôn với người anh-hùng áo vải Quang-Trung nơi quê Ngoại tôi trong trí nhớ xa mù…Tiếng trống Tây-Sơn đâu phải chỉ mở hội cho một cõi biên-thùy, mà cũng gieo vào lòng một người để làm nên giấc mơ 16…Xe chạy vào khu nuôi sư-tử…Loại chúa Sơn-lâm tượng-trưng cho quyền lực châu Âu, trong lúc người Đông-phương lại muốn ám-chỉ một loại đàn bà với đầy đủ nét xấu-xa của nó: “Sư-tử Hà-Đông !’. Khu sở thú này dành cho những người thừa tiền của không biết làm gì cho hết,nên đến đây để mua cảm-giác mạnh, bằng cách ngồi trong xe nhìn chúa Sơn-lâm qua làn cửa kính. Không hiểu người nghĩ ra cái trò chơi này để lấy 5$ , hay để cho người khách kia có dịp tiêu-pha tiền bạc dư thừa? Có lẽ cả 2. Đời sống của người châu Âu chỉ có thế, chỉ bao quanh những bơ sữa và những kiểu áo quần thực hấp-dẫn được trình bày trên những đường cong nẩy lửa của những models không ngại cởi truồng mà hình như ngày nào, ở giây phút nào người ta cũng thấy trên TV đến độ những nhà hoạt-động cho “Phụ-nữ quyền” phải lên tiếng trong một xã-hội chỉ chú ý tới “ăn”“mặc” chứ ít khi nào thấy chương-trình về Văn chương, Nghệ-thuật, ngoài những phim ảnh cổ-xúy bạo-động, hễ mở mắt ra là thấy “bóp cò” máu-me vương-vãi …Nói tóm, họ chỉ chú trọng tới việc làm thế nào để kích-thích tối-đa những rung-động loạn-xạ của những bộ dây thần-kinh căng thẳng, nóng bỏng …mà lúc nào chúng cũng chờ đợi kích-thích. Càng kích-thích càng tốt, bằng mọi cách, mọi kiểu. Những sợi thần kinh chằng-chịt như vậy mà lại rất ít sợi dẫn qua con tim…?!

 

Nắng lên cao. Khu Warragamba vẫn đông nghẹt những người, nằm rải-rác, trên những ngọn đồi thấp. Từng dãy cây sao vàng chạch, đang thay lá, để chờ Mùa Đông nảy lộc non, làm tôi nhớ những hàng cây bàng vào Thu ở Nha-Trang .Những chiếc lá to,đỏ ối nằm đầy trên những lối đi dọc bờ biển…

 

Đến bữa ăn trưa, nhóm người VN quây-quần trên những tấm bạt nylon được trải ra ,  với những thức ăn mà họ mang theo, ngoại  trừ tôi là khách mời. Tôi quỳ lên thảm cỏ, bới những hạt xôi trắng ngần, thơm dẻo, vào một chiếc đĩa nhựa ăn ngon lành. Tôi có bao giờ được ăn những thứ này trong nhiều năm rồi! Đôi khi có những chịu đựng tầm thường mà có bao giờ mình nghĩ đến. Mùi mỡ hành, làm nhớ những buổi sáng quê nhà làm SV nghèo ở Saigon ngủ muộn ra Ngã Sáu ngồi ở quán cóc kêu ly “xây-chừng” đặt trên chiếc ghế vuông thấp lè-tè trên mặt đất, và một gói xôi nhỏ, “khiêm-nhường” trong chiếc lá chuối rách tả-tơi, cầm cái thìa nhôm nhỏ xíu quậy-quậy vào ly café rồi dùng nó múc những muỗng xôi chậm rãi đưa vào mồm, vừa nghĩ đến xấp Cours dày cộm ghi vội ở giảng-đường ĐHSP SG, bất-giác làm tôi tự hỏi:  sao lúc nào tôi cũng nghèo,cũng tả-tơi, cũng lạc-điệu giữa những muôn ngàn đẩy xô, muôn ngàn ùa vỡ?...Tôi vẫn thấy tôi là kẻ ở ngoài! Nắng vẫn hồng, và áo em cũng hồng, mà sao lòng tôi vẫn thấy màu xám tro như màu mây trời lãng-đãng trong một ngày thời tiết xấu. Tôi mỉm cười nhớ lại một đoạn văn nào đó, trong một tài-liệu bằng Anh-ngữ ngày qua: “Nguyen Tu being a teacher, a soldier, an artist, a philosopher, and a wanderer cannot forget his broken’s heart bits left behind and scattered on the roads, the mountains, the rivers, the hamlets of Vietnam. He gathered them in 2 selections of short stories and poems: “GỞI NGƯỜI BÊN ẤY”(To you, who was left behind) and “DÁNG XƯA” (Those days Silhouette) published in Sydney in 1984 and 1985 respectively…” Mắt tôi đậu lại thực lâu ở chữ “a wanderer”. Ừa, đúng đó Giá-Băng! Còn dòng chữ “Broken’s heart bits” thì rõ-ràng, làm tôi nhớ đến cuốn sách em cho có  tên “Hãy bay đi những cơn mưa phùn”  của một người khét tiếng viết, được em bọc lại bằng giấy tím, với dòng chữ em ghi nơi trang đầu cuốn sách cũng bằng mưc tím nhắc về nụ cười nàng “Mona Lisa” của Loenard de Vinci…rằng “Em mỉm cười không phải để quyến rủ kẻ tình si, nhưng để che giấu một trái tim rách nát”như một gởi trao cho người lận-đận – là tôi , dù cũng đã có lần nào đó em nói em yêu câu thơ ngàn xưa mà Bạch-Cư-Dị đã viết cho người thương-nữ Tầm-Dương vào một đêm trăng qua sông gặp người tri-ngộ đuợc diễn nôm bởi Phan-Huy Vịnh, một kẻ sĩ VN cũng rất tài hoa :

    

     “ Cùng một lứa bên trời lận đận…

…………………………………………….

    …Tay ôm đàn, che nửa mặt hoa…”

                                           (Tỳ Bà Hành)

 

Tôi rời đám đông và trèo lên một sườn đồi gần đó nằm ngửa trên cỏ, dưới một tàn cây đốt từng điếu thuốc . Tiếng trực-thăng đáp xuống và bay lên ì-ầm liên-tục gần đó đưa những người khách hiếu-kỳ chịu bỏ ra 5$ để được bay một vòng trên khu đồi chập chùng mây thấp, làm tôi nhớ những ngày lửa đạn dồn-dập trên quê-hương mà trong đó có tôi là một người lính còn quá trẻ, đứng cầm khẩu súng đầy bụi đỏ ở vùng Cao-nguyên, nhìn theo chiếc trực-thăng tải xác trương sình đầy dòi bọ, vội-vã cất cánh lên cao, dưới những tràng AK đuổi theo không ngớt… Tiếng cánh quạt cành-cành, bụi mù, lá bay và mùi thối nồng-nặc của tử-thi làm tôi ói thốc vào chiếc khăn tay nhà binh màu ô-liu choàng ngang qua mũi. Chiếc nón sắt trên đầu, đè nặng lên tuổi trẻ tôi không bằng những nỗi xót-xa khi nhìn đồng-đội ngã xuống lặng thinh, ngã xuống không rên la, không thù hận…mà có người ví-von “nằm chết như mơ” …

 

 Tôi lấy chiếc mũ vải úp mặt lại, cố nhắm mắt một chút. Tôi thở mạnh, để đuổi xô những quá-khứ kinh-hoàng mà thực lòng tôi không hề muốn nhớ. Tôi muốn tôi có những hình ảnh đẹp hơn, dịu-dàng hơn, để cho tôi được sống với phần đời còn lại. Tôi nghĩ tới Giá-Băng, Nắng Hồng và chiếc cầu treo bắc ngang qua thung-lũng…lẩn trong câu chuyện thường bắt đầu 2 chữ “Ngày xưa”    Tôi bước song-song với nàng, vẫn lặng thinh như nắng ấm buổi trưa, và chợt thoáng nghe giọng ngọt-ngào như lời tình tự :

 

-Em vẫn thích bức oil  “Đường phượng bay” của anh quá chừng.!

-Sao rứa?

-Em nhớ …

-Nhớ cái gì?

-Thời đi học.

 -Học sao?

 -Học thầy.

 -Thầy nào?

 -Thầy dạy Triết.

 -Triết làm “hổ ngươi” người không biết Triết, phải không? Vì triết-học đã ảnh-hưởng từng giây phút lên cuộc đời của họ mà họ không hề hay biết gì, thí dụ mình hay bỏ quên, hay lỡ lời …qua cái hành động mà Tâm-lý học gọi là  “hành-động lỡ”(Actes manqués) từ “Vô thức” mà con người không thể kiểm sóat nổi theo quan-điểm của Freud (đọc là “Froi”) về ngành Phân-tâm học - một khám phá cưc kỳ quan trọng của thế kỷ 20 ! Hay nhãn-tiền nhất như sự lưu-xứ buồn tủi của tụi mình nơi đây, là do Triết Marx,  bắt nguồn từ cái biện-chứng 3 nhịp xa lắc của  đại triết-gia Đức Hegel là : đề(thèse)-> phản-đề(anti-thèse)->tổng hợp-đề(synthèse) …Ban đầu nó chỉ được ứng-dụng trong phạm-trù thuần Tư-tưởng, nhưng sau này Marx(Đức) và Engel (Anh) đã dựa vào đó để áp-dụng vào xã-hội, nơi đó giai-cấp Công-nhân bị bóc lột thậm tệ sẽ vùng lên chống lại bọn Tư-bản “ngồi mát ăn bát vàng”, giàu có nhờ xương máu Công-nhân, nên từ đó Marx tiên-đóan chắc nịch rằng: Những cuôc “CM vô-sản” sẽ xảy ra sớm nhất và dữ-dội ở 2 nước đại Tư-bản thời bấy giờ là Mỹ và Anh. Nhưng trên thực  tế  những  cuộc “CM Vô-sản”  chỉ xảy ra đầu tiên do Lénine chủ xướng ở Nga năm 1917 , là một nước nông-nghiệp chưa hề có “người Công-nhân”  nào cả, và tiếp theo là những nước nghèo sặt máu như Tàu, VN, Băc Triều tiên, Cuba ….mà chính Lénine gọi cái đám đông vô học và nghèo nàn này bằng một từ ngữ rất khinh thị  là “Masse ignorante”(khối ngu), vì “ngu” nên rất dễ dụ khị … Trong lúc những nước Tư-bản từ lâu như Mỹ, Anh, Pháp, Nhật Úc…đảng CS được cho hoạt-động tự do mà chả ai thèm theo, chứng tỏ thuyết Marx đã sai ngay từ đầu .Trật lất rồi ông ơi! Đó là chưa kể ý-niệm căn bản của thuyết này luôn phủ nhận quyền “Tư-hữu” là điều trái với bản-năng con người, khi một nhóm trẻ tí -teo được thảy cho một vốc kẹo, đứa nào cũng muốn giành giựt cho thực nhiều kẹo vào mình, thì cái đó là gì nếu không phải lòng “tư hữu” mà chả ai dạy chúng cả! Và, cho tôi được hỏi: Nếu như ông Marx thấy 2 đứa bé đang sắp chết đuối, 1 đứa là con của ông, và đứa kia là con hàng xóm, thì ông sẽ nhảy xuống ao vớt đứa nào ?Nếu ông nói rằng ông sẽ vớt thằng bé hàng xóm thì ông cho tôi xin được nghi-ngờ lòng tốt của ông, và nếu ông làm thực mà bỏ cho con ông chết tốt, thì tôi sẽ quì lạy ông và tôn ông làm Thánh …Và nếu ông nói ông sẽ cứu con ông thôi, thì tôi sẽ mời ông đi uống café với tôi, vì ông thành thực sống bình thường với đầy đủ bản chất con người đầy “tham lam sân hận” được dẫn dắt bởi lòng “tư-hữu” như một bản-năng tự nhiên, mà ông cố tình phản-bác trong học thuyết của ông ……

 -Ừa há, rồi gì nữa?

-Và làm “khổ” người biết Triết-học, vì biết nhiều quá nhức đầu …..

-Ừa, nhưng em thích!

-Vì sao ?

-Không biết nữa, nhưng có lẽ vì nó sâu-sắc, nó “đụng” tới tư-tưởng con người!

-Đúng như vậy, nó là môn nền tảng cho mọi suy luận,  kể cả Chính trị hay Khoa-học. ..mà em có thể từng thấy nó qua tên các Triết gia cổ-điển nhan-nhản trong sách Toán bây giờ như Thales, Pythagore, Platon …người từng viết một câu rất “hách”dựng ngay trước cửa nhà mình(sau này trở thành Academy): “Những ai không biết Toán, xin đừng bước vào cổng này”. Và những đại Triết gia kiêm Toán gia lừng danh sau này như Descartes của Pháp cực-kỳ Duy-lý, hay Bertrand Russell của nước Anh, một Triết gia từng chống chiến tranh VN, kiêm Toán gia, kiêm nhà Văn từng được giải Nobel Văn chương đã phán một câu làm ngẩn-ngơ bao kẻ học Toán:“Toán học là một môn học mà nơi đó người ta không biết nói về cái gì, và khi nói như thế không biết có đúng hay không?” chỉ để làm nổi bật tính cách thuần-lý(rationnelle) của môn học này, mà rất nhiều người sợ trong thời đi hoc …Nhưng thôi, “bỏ đi Tám!”, em là  phụ nữ, lại đẹp, bước vào thế giới này làm gì, nó làm thui chột tâm hồn lãng mạn của em đi, bởi vì anh biết rằng phần lớn các Vĩ-nhân là Triết gia và họ hay điên khùng vì suy-tư quá thể như Nietzsche chả hạn, dù Triết lý họ đã làm đảo lộn tư-tưởng châu Âu….

-Bỏ không đành đó chứ, bởi có người nói: “Thà làm một Socrate bất-mãn, còn hơn làm một con heo toại nguyện” -  nhớ chưa anh?

-Nhớ được những gì?

-Quên hết! Chỉ nhớ mỗi câu đó thôi!

-Ừa, khỏe?!

 -Không khỏe đâu nha, vì sợ hãi kinh-khiếp khi thấy cái đầu mình rỗng không, dù cũng có người chưa học Triết bao giờ, hay giỏi lắm chỉ học Triết Đại cương gọi là “khai-tâm” mà thôi ở lớp 12 trước đây thì đã ra điều xỉ vả bỉ thử này nọ…hẳn do “mặc-cảm khiếm-khuyết” khi tự thấy mình không đủ sức kham nổi vấn-đề giống như người nghèo mạt rệp mà lại ưa chửi “tiền” - phải giàu cái đã thì mới đủ tư-cách miệt-thị tiền bạc,y chang như anh chàng Ả Q. của Lỗ-Tấn tự thấy mình không đánh nổi thằng vô-lại thì bỏ đi và  tự an-ủi “Mày đánh ông thì cũng bằng như  mày đánh Bố mày “ cho tiện  việc sổ sách chứ cũng hậm-hực đầy mình, nhưng ai nói gì thì nói,  sao em vẫn thích Tâm-lý-học quá!.

-Nhảm, bày đặt!

-“Hối-hận”  và “ hối cải”ở đâu anh? Tâm-lý hở?

- Bá-xàm đi !Trí nhớ “phản động” rồi.!

  Ừa, cái đầu hư rồi! Bơ sữa làm hư.

 -Đừng đổ thừa! “Xe” và “nhà” làm hư.

 -Ừa, cũng thế!

 -Ở đâu anh?

-Ở bài “Ý thức đạo đức” - phần Morale, nói về triệu-chứng của Lương-tâm.

 - “Chữ thầy trả cho thầy” hết trơn!

 -Giữ lại cái gì?

 - Không muốn nói…      

- Xạo! Bữa nay trông em sao “nhỏ” vậy?       

- “Lớn” bao giờ?             

-Từ ngày biết giữ “cái gì đó” trong lòng?!               

-Vậy hở? Thế thì “lớn” lâu rồi! Nhưng giờ muốn “nhỏ” lại chút-chút, như hôm nay, phải cho em một ngày để em thở bằng chính lồng ngực của em chứ  - được không?  

-Tạm-tạm được.               

- Sao lại “tạm”?                 

-Vì không có cái gì “chắc” trên đời này hết như ông Xuân-Diệu từng viết “Sự thực ngày nay không thực đến ngày mai” mà, phải không ?               

-Vậy  cái “không chắc” “chắc” phải không?               

- Ừa, nhưng “cái không chắc là chắc” cũng “không chắc” luôn!                

-Ừa hé! Khó ghê!

 

Và, nàng nhìn nghiêng qua tôi với đôi mắt đầy thán-phục, nói  một cách vừa thực vừa giễu cợt:

 

-Ừa, cái đầu của “ bồ” em “ớn”  quá!               

-Vậy hở? Ai biết đâu! Thôi bỏ qua đi không thì “khổ” đó.               

 

Giá-Băng giọng thách-thức:

 

-Bộ sợ “khổ” hở?                

 

-Sợ cho anh thì ít, nhưng sợ cho em thì nhiều!Bởi trong anh sự khổ-hạnh đã “saturé” từ lâu rồi, mà trong Hóa-học người ta gọi là “dung-dịch bảo-hòa” giống như muối em bỏ vào nước lã, khi muối bắt đầu không tan thêm được nữa, thì nó chỉ chìm xuống đáy ly mà thôi…Giờ anh có “khổ” thêm cũng chả sao!

 

Nhưng tôi vẫn muốn cho Giá-Băng, có một cái nhìn khác, dương-tính hơn về nỗi khổ kiếp người, vì nàng là người phụ-nữ được Công-đồng tỵ-nạn VN nơi đây, ưa gọi một cách thân-mật là “Người đẹp Sydney” khi nàng chưa tới 30 tuổi, tuổi đẹp nhất của người đàn bà Á-châu - dù hình như nàng cũng đã chạm mặt với nỗi buồn tủi về cuộc hôn-nhân không do nàng lựa chọn …Nên tôi nói thêm:               

 

-Em có nghĩ , đôi khi “khổ”cũng  là một Hạnh-phúc hay không?Như “Tình yêu” chả hạn, càng trầy-vi-tróc-vảy vì tình bao nhiêu, thì người ta lại xăm mình lao vào tình yêu bấy nhiêu, có khi còn hơn thế nữa, chưa hề thấy ai “tởn” tình yêu bao giờ cả, mà người ta vẫn dùng câu thành-ngữ dù có vẻ đùa cợt nhưng không sai mấy là “Yêu thì khổ, nhưng không yêu thì lỗ”, nói như TCS “Người ta không thể không yêu được”. Em đừng tưởng Lan và Điệp, một người cạo đầu vô Chùa rồi thì hết “yêu” nha, chỉ là sự tự lừa gạt trái tim chính mình mà thôi! Thấy Hạnh-phúc trong nỗi đau ,Tâm-lý học gọi là “Thú đau thương” – plaisir de douleur – đó em, nghe ra rất nghịch-lý trong một hạn-từ, trái với “Nguyên lý đồng nhất” trong Logique nha !?Ngay như trong Thơ tiền chiến cũng vậy, trong một “cặp đối-đãi”(couple de contraires) đáng lẽ nó sẽ cự-nự nhau tới bến như bản-chất , thì nó lại hẹn-hò nhau trong “cùng một trật”( à la fois) để tạo ra Hạnh-phúc mới kỳ-cục chứ, như: “Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé” hay “Tình chỉ đẹp những khi còn dang-dở”… có phải là “trái cựa”, là “paradoxe” khủng-khiếp không nè - một thứ “Masochisme” trong Phân-tâm học của Freud đó em?Dù trên đời này, em đừng tưởng chỉ có những tay “Sadisme” như Néron, buồn thì đốt thành La-mã rồi ngồi phán tỉnh queo “Ôi, cảnh cháy nhà sao mà đẹp vậy nhỉ ?” hay như Lê-Long-Đỉnh nước mình có thú vui giải sầu là ưa tự róc mía trên đầu trọc mấy ông Sư rồi giả vờ lỡ tay phập xuống cho tóe máu rồi nhìn cười ha-hả khoái trá, thời đại này không thiếu những loại người “lấy làm khoái trên nỗi đau kẻ khác” kiểu này đâu nha …

- Nhưng em không tin như thế? 

-Sao vậy?                

Vì đó là căn bịnh của bọn “Bourgeois” Tây phương!?            

-Nhưng, đôi lúc đó cũng là Tâm-lý bình thường mà,dành cho trường-hợp của những người chưa có kinh-nghiệm nhiều về Hạnh-Phúc, được định-nghĩa như một “khuynh-hướng được thỏa-mãn” và họ nghĩ rằng họ không còn có cách gì để vươn lên nữa, nên họ trở nên an-phận trong cái mà họ đang có một cách không muốn, gọi là “chịu đựng” mà phải đành lòng…thường thấy ở những người phụ-nữ Á-châu:

 

-Một cách tự lường gạt mình như anh đã nói lúc nãy, sao anh?

                 

-Ừa, đúng ra là một cách thế tự-vệ tiêu-cực đối với đời sống.

                 

-Nhưng đâu có tự lường gạt mình mãi đươc?

 

-Giống như một người say rượu, chỉ quên đời trong giây lát, rồi lại ê-chề sau đó nhiều hơn, nói như Nguyễn-Du:

               

  “Khi tỉnh rượu lúc tàn canh

  Giật mình, mình lại thương mình xót xa”

                

-Ừa, thế mà họ vẫn lựa chọn cái “Hạnh-phúc khổ đau” đó.Tại sao?

                   

-Vì họ nghĩ “Có cũng còn hơn không!” , bởi mọi người sinh ra là có quyền được Hạnh-Phúc. Họ là những kẻ bị bạc-đãi nhất trên đời, xét theo một nghĩa nào đó…Em có thấy “tội” chưa?Có khác gì cái mệnh-đề 2 của câu tục-ngữ anh nói lúc nãy đâu: “Không yêu thì lỗ”!Nói như cụ Nguyễn-Công-Trứ ngày xưa cũng nằm trong ý-niệm nhân-sinh này, khi ông có nhắc đến chữ “lãi” và “thiệt” trong đó::

 

“Cuộc hành-lạc bao nhiêu là lãi đấy,

Nếu không chơi, thiệt ấy ai bù ?”

 

 Giá-Băng mỉm cười với đôi mắt có chút long-lanh, im lặng trong giây lâu, rồi nói:

 

-Đó là lý-do em muốn xin anh cơ-hội để cho em tự thở với chính lồng ngực của mình, không gì bất-hạnh bằng mình phải thở với lồng ngực kẻ khác, bởi vì em có riêng một cuộc đời như mọi người mà mình phải “tự sống với nó”, phải không anh, sao lại để kẻ khác sống giùm cho mình chứ ??Thế mà ….                                                                    

 

Buổi chiều tàn, đám người trở lại thành phố, và mỗi người suy nghĩ về đời sống khác nhau. Những vạt nắng hồng đã cò nhiều hơi lạnh. Tôi đi bên cạnh Giá-Băng, nàng nhìn nghiêng cười tình tứ. Tôi đứng lại, móc trong túi áo một thỏi kẹo bạc-hà nhỏ, bỏ vào bàn tay Giá-Băng và nói: “Hãy ăn kẹo như trẻ thơ, đêm nay về ngủ yên-bình lãng quên đi mọi thứ đã xảy ra trong ngày, kể cả những vạt nắng hồng lấp-lánh trên những ngọn cây sao,đang mùa rụng lá. Và chỉ nên nhớ một điều: Quên được nhiều điều là một Hạnh-phúc. Ngày mai có thể nắng không còn hồng  và em cũng sẽ trở lại lớn khôn như đã lớn khôn. Xin hãy quên đi một ngày được làm trẻ thơ trong đời sống. Chiếc jupe ngắn màu hồng, đôi chân chim, câu chuyện học trò và thỏi kẹo bạc-hà hôm qua, chỉ là giấc mơ yên-bình trong cơn mộng-mị, đã đủ quá rồi, cho những giọt nước mắt phai nhanh..”

                                                                                                                                                     

 

                                                                                                       *Nguyễn-Tư

CÓ NHỮNG LẦN GẶP-GỠ...

 

* Tùy bút Nguyễn-Tư

 

 

Gặp gỡ là gì nếu không phải là sự trùng hợp giữa không gian và thời gian trong một sự tình cờ mà người ta ít khi biết trước, cũng có khi là những hẹn hò lần đầu...Chính điều này đã khiến người ta ngỡ ngàng mừng rỡ, hay giấu mặt nghẹn ngào...nhất là những người đã có một thời dan díu với nhau về tình cảm nhưng vì một lý do nào đó họ phải chia tay trong niềm đau đớn và tủi hận dập vùi...Vì cuộc đời có nhiều cách ngăn do chính con người tạo ra, hoặc do hoàn cảnh, cho nên người ta - có khi, không thể gặp nhau trong một khoảng thời gian dài với những đơn vị được đo bằng "thập niên", như"Mười năm tình cũ” chẳng hạn. Trong đó, con người ngỡ đã quên đi, nhưng mọi dấu xưa lại bỗng nhiên hiện về ra đó khi người ta tình cờ gặp lại nhau - có lúc như một kẻ lạ với rất

nhiều đổi thay, dù cũng có thể bị che đi bằng những "úp mặt bùi-ngùi"để theo đuổi những đau thương riêng lẻ, mà Thượng Đế đã dành cho loài người, là con vật biết ưu tư không có quyền quên lãng, khi mình đã lỡ "nợ nần" nhau trong kiếp này...

 

Nói như Lê Thương trong"Hòn Vọng Phu", có những người được sinh ra trên cõi đời này chỉ để"mang mệnh biệt ly", nên suốt đời họ được nối kết bằng những chia cách - chia cách một ngày, chia cách trăm năm, như những nhân vật lỡ làng trong tiểu thuyết của F. Sagan, và họ đã nói những câu mà kẻ kia nghe như múc cạn lòng người, nếu họ còn chút tình cho nhau trong những tháng ngày xưa cũ hay vừa mới phôi pha:"Dans un mois, dans un an tu ne m'aimeras plus" - Trong một tháng, một năm, rồi em sẽ không còn yêu tôi nữa...bởi vì như Nietzsche đã nói:"Trong tất cả các thứ tình cảm của con người, tình yêu là thứ tình cảm đầy lòng ích kỷ nhất, bởi thế khi bị tổn thương, nó cũng sẽ trở thành ít độ lượng nhất", có nghĩa rằng mình tự yêu mình trong kẻ khác,

nhiều hơn là mình yêu người như mình TƯỞNG...mà thực ra chỉ là sự chiếm hữu tha nhân ..

 

Tôi đã gặp lại Mai trong những tháng ngày xa mù của ký ức, và quả thực tôi bùi ngùi...Mai thầm lặng như xưa, trong cái dáng mảnh mai với tà áo tím than đang là một cô Giáo tỉnh. Tôi cũng vậy, từ phương xa đến thành phố này cũng chỉ để làm việc vài ngày trong một kỳ thi Tú tài như một Giám khảo. Thế thì đẩy đưa nào đã khiến cho tôi gác thi chung với “Mai-ngày-xưa” trong một căn phòng thi, mà thí sinh chỉ toàn là quân nhân và tôi là một Trung úy...

 

Hôm đó tôi đến muộn vì đường xa, nhưng tôi thực ngỡ ngàng, pha một chút băn khoăn lẫn xót xa khi nhìn lên tấm bảng phân công trong phòng Chánh Chủ khảo có tên của một người quen làm Giám thị II, mà tôi lại làm Giám thị I! Người Giám thị II đó chính là Mai! Mai của những ngày buồn sân trường Đại học, mà cuối cùng cuộc hành trình tình cảm chẳng đưa đến đâu, ngoài những oán trách có pha lẫn những giọt nước mắt âm thầm...Tôi đi miệt mài nơi cuối trời lận đận, và Mai

yên phận lấy chồng với một người đàn ông nàng không yêu,lại học thấp hơn nàng …  như chỉ muốn lấp đầy đi một khoảng trống trong tâm hồn Mai, vốn nhiều xao động...

 

Khi tôi bước vào hành lang vắng hoe, thì đã thấy Mai đứng nơi cửa sổ phòng thi chống tay lên cằm nhìn mông ra bầu trời trắng đục. Dường như nàng đang theo đuổi những ý nghĩ riêng tư của chính mình trong sáng nay, có lẽ vì những xúc động từ cái tên người Giám thị I chung phòng, mà Mai đã biết là ai, từ chiều hôm qua nơi phòng Khảo thí, khi có đến gần mười năm không gặp - một thời gian khá lâu đủ để những kẻ đã yêu nhau hy vọng mình sẽ quên đi những dấu xưa lờ mờ

trong trí nhớ...

 

Tôi đến. Mai lặng lẽ rời khung cửa sổ, bước vô trong, rồi đứng vòng tay tựa lưng vào tường ở cuối lớp nhìn lên, để chờ đợi cái giây phút mà cả Mai lẫn tôi không biết gọi tên nó là gì!? Tôi bước vào cửa phòng thi với lời xin lỗi thường lệ là tôi đến trễ vì đường xa. Đám thí sinh ngước lên nhìn. Mai mỉm cười gật đầu chào tôi với nét mặt buồn hiu hắt. Tôi nói với đám thí sinh lính vài lời về lý do tại sao Bộ đã đưa tôi đến đây để gác thi phòng quân nhân, bởi tôi cũng là lính, vì mấy năm trước đã có nhiều trường hợp thí sinh quân nhân vô kỷ luật đem vũ khí vào phòng thi để đe dọa Giám thị dân sự. Và tôi hy vọng mọi người đừng làm những gì ô danh Quân đội, dù trong phòng thi, sau

khi đã đề nghị bạn nào có vũ khí nên đặt hết lên bàn...Đám thí sinh có vẻ vui mừng vì biết người Giám thị họ là một đồng nghiệp – “nghiệp” lính , dù tôi chỉ mặc đồ "civil"...

 

Tôi đến gần Mai hỏi nhỏ vừa đủ để Mai nghe:

 

-Mai có khoẻ không?

 

Mai chỉ gật đầu trong lặng thinh với những giọt nước mắt rưng-rưng, mà tôi không hiểu đó là những giọt mừng hay là những lời thống trách? Lòng tôi áy náy vô cùng, nên để tránh những ngột ngạt, tôi đến bàn giấy, cầm xấp phiếu thí sinh lên kiểm soát từng tấm hình như bổn phận của một Giám thị, rồi ra cửa lớn đứng một mình...

 

Một lát sau, Mai theo tôi ra đứng một bên. Nàng vẫn im lặng, dáng nhỏ bé tội nghiệp. Chiếc "bandeau" màu xanh lam choàng hết vầng trán gầy gò. Gió thổi bay tà áo tím phất phơ. Tôi lại hỏi nhỏ giọng e dè hơn:

 

-Mai có buồn gì tôi không?

 

Mai vẫn lặng thinh cúi xuống, lấy mũi guốc nẩy lên những hạt cát nhỏ nằm rời rạc trên hành lang...Rồi bất ngờ Mai nói giọng run-run như chừng đang xúc động:

 

-Em cũng không ngờ là có ngày lại gặp anh ở đây. Em buồn quá đỗi!

 

Tôi chợt hỏi vẻ lo âu:

 

-Tại sao vậy?

 

Mai nói chậm rãi:

 

-Dường như em vẫn không quên được anh, dù em đã lấy chồng và đã có một đứa con. Với thời gian gần mười năm, em chợt thấy nó chẳng là gì, khi em phát hiện ra tên anh trên bảng phân công chiều qua trong phòng Chánh Chủ khảo. Tại sao Trời lại phạt em nhiều đến như thế cơ chứ?!

 

Tôi lấy thuốc ra hút để trấn cơn cảm xúc bất ngờ, và nói giọng an ủi:

 

-Mình nên nói chuyện khác đi, đừng nhắc lại những điều nó đã trôi vào quá khứ! Mình nên tha thứ cho nhau, Mai! Chúa đã chịu đóng đinh trên Thánh giá một lần cũng chỉ vì "tội lỗi" của loài người, dù tôi chỉ là một người ngoại Đạo!!

 

Rồi tôi tiếp:

 

-Chiều nay, Mai có thể ra phố với tôi một chút được không?

 

Mai suy nghĩ giây lâu như đang tính toán điều gì, có lẽ vì Mai là cô Giáo tỉnh này và là cô Giáo đã lấy chồng có rất nhiều người biết ở một xứ, mà mọi cái nhìn khắt khe đều có thể xảy ra. Nhưng cuối cùng, Mai quyết định một cách nhanh chóng như chừng sợ một cơ hội hiếm hoi sẽ mất đi, nên nàng vội đáp ngắn ngủi:

 

-Dạ được!

 

Đoạn nàng giải thích thêm với cái nhìn tôi có vẻ vui hơn, pha một chút tinh nghịch:

 

-Vì thành phố này của Mai, mà anh là "khách"!

 

Tôi bắt chước thơ Hàn Mặc Tử với lời bỡn cợt:

 

-...Là"khách đường xa!" phải không? Nên"Áo em tím quá nhìn không

ra!"...

 

Mai cười hiền lành tội nghiệp. Mái tóc dài vẫn bay ngược về phía sau...Tôi và Mai đến đứng nơi cửa sổ nhìn vào đám thí sinh quân nhân đang cặm cụi làm bài một cách vất vả, vì thực sự họ có học hành gì đâu, ngoài những lần đụng trận mịt mù, những đêm đi kích liên miên, nhưng họ vẫn còn tiếc nuối bút nghiên như những thanh niên may mắn khác còn sống ở phố phường. Tôi xót thương

cho người lính và muốn tìm cách giúp họ điều gì đó, dù như vậy là trái với bổn phận của một người Giám thị, mà nếu biết được Bộ Giáo dục có thể truy tố tôi ra Tòa. Nhưng đối với tôi, điều đó đâu có hề gì, khi tôi đã là một người lính mà số ngày bị phạt "trọng cấm" có thừa. Tôi cầm miếng đề thi có in con dấu đỏ ghi hai chữ"Bản chính" đưa cho Mai xem, và chỉ ngay vào cái đề luận Triết khó nuốt, bàn về quan điểm của H. Bergson:"Trực giác, rốt cuộc chỉ là sự nhớ lại", rồi nói với Mai:

 

-Đề này thì tụi lính của tôi sẽ thua, nên Mai để tôi "gà" cho chúng nó vài ý kẻo tội nghiệp. Biết đâu có đứa sẽ không còn sống để lãnh tấm bằng này...Đó là cách Mai"đền ơn chiến sĩ"thực tế nhất. Mai mỉm cười gật đầu chia xẻ nói:

 

-Tội!

 

Cuối giờ, tôi ôm xấp bài thi cho Mai, và nhờ nàng cầm mấy bọc phiếu thí sinh, cùng những tờ giấy nháp thừa nhiều màu trở về Văn phòng Chánh Chủ khảo. Sau khi chờ cho kiểm bài xong, tôi và Mai ra về, sánh vai bên nhau. Trên lối đi Mai vẫn nhỏ bé như ngày xưa, nép sát bên tôi, tay cầm vạt áo dài trước che đôi ống quần trắng phất phơ trong gió. Giọng bùi ngùi, Mai bất ngờ hỏi tôi:

 

-Anh có còn yêu Mai không?

 

Tôi lặng thinh giây lát, rồi từ tốn nói:

 

-Điều đó không quan trọng gì đối với một đời người. Mình không nên tra vấn, vì mình yêu hay không còn yêu một người khác, nó không tùy thuộc gì vào chuyện người ta có còn yêu mình hay không? Bởi yêu được người là một Hạnh phúc, chỉ sợ lòng mình không còn đủ nồng để yêu kẻ khác mà thôi! Nói rõ ra là lòng mình chai đá như viên cuội tròn vì đã lăn trên đường đời mỏi mệt, rồi trở nên nguội lạnh đối với mọi điều, lúc ấy coi như mình đã "chết", mới là việc đáng sợ. Tình yêu, tự nó không phải "còn" hay "mất", "nhớ" hay "quên", "muốn" hay "không muốn", mà nó là một cái gì đó tự tại trong chính lòng mình, muốn nó không có và xua đuổi nó cũng không đi, thực ra chẳng ai hiểu vì sao, như ông Pascal đã nói:"Con tim nó có lý lẽ riêng của nó"!? Vì thế, Mai không nên hỏi

tôi như vậy, vô tình làm cho Tình yêu chúng mình trở thành phàm tục...Tôi không lãng mạn đâu, vì bây chừ mình không còn tuổi để lãng mạn nữa. Gặp được Mai, tôi vừa mừng vừa buồn, cũng không hiểu tại sao!? Nhưng thôi, mình nên nói chuyện khác đi Mai!Mai lặng thinh đi bên tôi như hồi gần mười năm về trước một cách nhỏ bé ít oi...

 

Ngày qua, bất ngờ nhìn một tấm ảnh làm tôi mủi lòng. Tấm ảnh chụp người con gái ấp đầu vào vai một người đàn ông đang quay lưng lại về phía người nhìn.Một cánh tay mềm mại mang găng trắng của một người đàn bà đẹp nổi tiếng: Củng Lợi, của màn ảnh Trung quốc, ôm choàng một cách thân thương qua vai Đạo diễn Trương Nghệ Mưu - người tình lỡ sau 7 năm hương lửa nồng nàn, giờ đã đột ngột chia tay mà người ta không biết vì lý do gì!? Khuôn mặt cô đau khổ, mắt nhắm nghiền lại (có lẽ vì cô đang khóc)...do một nhiếp ảnh gia chụp được tại Đại hội Điện ảnh Cannes ở Pháp năm nay, với chủ đề không phải bao quanh các phim ảnh dự thi, mà chính là cuộc đổ vỡ tình cảm của cặp trai tài gái sắc đầy đau thương của xứ Cộng sản này!

 

Cả hai người đều thuộc nền điện ảnh Trung quốc, nên họ bị gò bó rất nhiều trong việc dàn dựng phim ảnh, ngay cả những lần xuất ngoại để lãnh những giải thưởng Điện ảnh của Tây phương trao, như năm 94 trước đây, mà cũng chỉ có một mình Củng Lợi, đại diện người yêu mình là Trương Nghệ Mưu đến nhận với những giọt nước mắt buồn tủi...

 

Trương Nghệ Mưu là một Đạo diễn có tài của Trung quốc. Ông đã làm nhiều cuốn phim có giá trị Nghệ thuật cao, được giới phê bình phim ảnh Tây phương chú ý, mà phần lớn do Củng Lợi đóng vai chính. Và hai người đã bất chấp mọi ngăn cấm của một xã hội Á châu đầy khe khắt, vì Trương Nghệ Mưu đã có gia đình, 2 con, thì mới thấy là tình cảm của họ nó nồng nàn đến mức nào!? Vậy mà bây giờ họ đành chia tay nhau, đường ai nấy đi! Nhưng điều đáng nói là họ vẫn còn yêu thương nhau lắm. Trong kỳ dự thi Điện ảnh này cả 2 người đều lánh mặt nhau, dẫu ban tổ chức xếp họ ngụ chung một khách sạn như mấy năm trước, nhưng họ đã ra ở riêng và không đá động gì nhau qua báo chí, còn bảo vệ nhau khi báo chí khai thác, ngoài những giọt nước mắt âm thầm chảy dài trên má của Củng Lợi, khi người ta đề cập đến người xưa với nàng! Chính những giọt nước mắt này đã khiến người ta biết họ còn yêu nhau lắm, nhưng vì một hoàn cảnh nào đó quá éo le, nên phải xa nhau! Trương Nghệ Mưu cũng vậy, phim dự thi"Đong đưa qua nhà của Ngoại"thiếu chất lượng, biểu lộ sự đi xuống rõ ràng, vì chàng chẳng còn thiết tha gì đến Nghệ thuật nữa, khi người yêu đã mất!

 

Tôi nghĩ trong cuộc đời này, có 2 tội ác mà loài người đã nhân danh nhiều thứ (vốn có-sau-con-người như Đạo đức, Luật pháp...) để dành cho nhau, nhất là trong những xã hội Á Châu: một là, bắt người ta phải ăn ở với nhau suốt đời dù không yêu thương gì nhau! Hai là, ngăn cản người ta yêu thương nhau vì bất cứ lý do gì! Trường hợp Củng Lợi và Trương Nghệ Mưu là một, tại sao họ đang

yêu thương nồng thắm nhau như vậy mà phải chia tay? Vì sao?

 

Dù hai người đã lánh mặt nhau, đến không ngụ chung nhau, không đề cập đến nhau khi báo chí chất vấn, vậy mà trong cuối buổi lễ chiếu phim để kết thúc kỳ Đại hội Điện ảnh Cannes này, thì Củng Lợi và Trương Nghệ Mưu bất ngờ đã vụt ôm nhau khóc sướt mướt, làm mọi người cảm động. Nghĩa là họ không thắng được chính lòng mình, không cưỡng lại được Tình yêu mà họ đã dành cho nhau trên trái đất này. Mọi ngăn cấm, mọi đàm tiếu, mọi đánh lừa chính họ... đều phải ngã quỵ trước sức mạnh vô biên của cuộc tình đã từng giẫm trên những què quặt của nền Đạo đức Đông phương, được xây dựng bởi một phần nào đó ý hệ rất thiếu Nhân bản, bắt nguồn từ lòng vị kỷ của chế độ Phong kiến Trung hoa, kéo dài hàng thiên niên kỷ không chút đổi thay, mà người Tây phương cực kỳ phủ nhận, khi họ thấy con người chỉ thực sự làm người - trước tiên, phải tự do yêu thương và được yêu thương, không có một nhân danh nào của loài người để ngăn cấm nó cả!

 

Sao thế gian này nó lại có những cuộc gặp gỡ đau lòng như vậy, khi người ta yêu nhau một đời, để chỉ có quyền được gặp nhau một lần, rồi thôi, trong đớn đau, trong tiếc nhớ, mà tôi vẫn tự hỏi: "vì sao"?!! Bất giác, tôi chợt nghĩ đến lời hát bùi ngùi của một người mong ngóng một người, khi họ đã đường đột xa nhau và họ tự biết rằng họ sẽ chẳng bao giờ gặp lại nhau nữa, với những mường tượng cho kẻ đã ra đi ở cuối chân trời - thực ra, chẳng vui vẻ gì, với câu hỏi mà những kẻ yêu nhau không bao giờ dám lên tiếng, nếu họ thành thật:"Nơi em về ngày vui không em, nơi em về trời xanh không em, ta nghe ngàn giọt lệ rớt xuống hồ thành nước long lanh...", khi tự bản chất, ai đã làm người từng đau thương vì Tình, đều cảm nghiệm được rằng: không thể có nơi nào cho em (hay

anh) trên trái đất này, mà "ngày" sẽ "vui", và "trời" vẫn "xanh" cho những "hạt lệ" chia tay vì một cuộc tình đã lỡ cả - dù con người, vì một lý do nào đó có tự lường gạt mình đến cách gì đi nữa, như vòng tay tình cờ của Củng Lợi, bất ngờ ôm choàng qua vai Trương Nghệ Mưu với những giọt nước mắt âm thầm không nói nên lời, sau những xa cách, những trốn chạy miệt mài của nhau, mà hẳn họ

chẳng bao giờ dám nghĩ tới!...

 

Tại sao cuộc đời này thì ngắn ngủi mà người ta lại trao cho nhau những đau khổ dài lâu, đôi khi hết cả một đời, chỉ để rồi sau đó buông xuôi mọi thứ mà về với cát bụi, đã là khởi đầu cho thân xác phù sinh của họ ở chốn này? Và, tôi cũng đã suy gẫm rất nhiều về một lời đối thoại bất ngờ trong một phim Pháp do Brigitte Bardot đóng, khi nàng đã đứng hôn người tình mình là một Đạo diễn dưới một mái hiên kín đáo, mà người chồng nàng đứng trên sân thượng bắt gặp, nhưng anh ta không phản ứng gì. Sau đó, trong một cuộc cãi vã, người chồng đã cho nàng biết anh ta đã nhìn thấy nàng hôn người đàn ông khác như một bí mật mà anh ta làm bằng cớ để tố cáo nàng ngoại tình và thắc mắc tại sao nàng lại không nói cho anh ta biết về nụ hôn vụng trộm đó, thì cô chỉ thanh thản trả lời:"

Em biết anh thấy chứ, nhưng em không tin cho anh hay vì đời là thế mà! Vả lại,khi em chết em có nói cho anh biết đâu, hà tất gì một nụ hôn cho người em yêu,mà chính em vẫn không hiểu tại sao!".

 

Trong thế giới phù vân này, con người không thể hiểu được nhiều thứ như Spencer, một đại Triết gia Duy nghiệm của thế kỷ đã lên tiếng, gọi là"bất khả tư nghì"  - inconnaissable - như Triết học Đông phương luôn nhìn đời với một con măt nhắm và một mắt mở, trong đó có một thứ không ai hiểu nổi cả, đó là TÌNH YÊU - nếu thực sự con người đã yêu thương nhau vô bờ như Củng Lợi và Trương Nghệ Mưu, mà thường tình người ta chỉ TƯỞNG mình yêu kẻ khác, hay đúng hơn là mình yêu mình qua kẻ khác mà thôi, như Nietzsche,  đã từng nói như thế...

 

Và, như vậy không biết chúng ta nên buồn hay nên vui, khi đôi tai loài người chỉ để được nghe tiếng những hạt lệ buồn “rớt xuống hồ làm sóng lênh đênh” như những giọt nước mắt tình cờ của Củng Lợi ở Đại hội Điện ảnh Cannes vừa rồi, trên vai Trương Nghệ Mưu, hay những hạt rưng-rưng nơi khóe mắt của Mai trong một buổi gác thi không hẹn trước …thì có khác gì nhau - khi chắc chắn  chúng chợt thoát ra từ những trái tim “đau” - hơn là những nụ cười của trăm năm Hạnh phúc...!??

 

HOA HỒNG TRẮNG

 

*Nguyễn-Tư

 

Ngôn-ngữ tự nó là một nghịch-lý (paradoxe) mà ý nghĩa lại nằm nơi quy ước phía sau. Người ta nói:"hoa hồng trắng"nó cũng dị kỳ như nói"nói vậy chứ không phải vậy!?". Đã"hồng"sao lại còn"trắng"?Và, khi nói:"nói vậy chứ không phải vậy"có nghĩa rằng giữa lời nói (ngôn ngữ) và sự thực (tức "Chân lý": được Luận-lý học định nghĩa như sự "trùng hợp giữa phán-đoán - jugement, và thực-tế") không giống nhau. Nhưng người ta quên rằng:"nói vậy, chứ không phải vậy"cũng là một câu nói - một chuỗi ngôn ngữ, điều đó chúng ta cũng phải ngầm hiểu:"nói vậy chứ không phải vậy" cũng"không phải vậy!?". Cho nên, rốt cùng: ngôn ngữ không phải là phương tiện chính xác để chuyên chở ý nghĩa, nên người Trung hoa đã phán:"Ý tại ngôn ngoại"(ý nằm ngoài lời) là thế!. Bởi vậy, nhóm từ ngữ"hoa hồng trắng"chỉ còn lại ý nghĩa đơn thuần là biểu-tượng (symbole) tình cảm của những người mất Mẹ, chứ không dừng lại ở ý nghĩa một chiếc "hoa", cho dù chữ"hồng" (rose) là một tính-từ chỉ màu sắc đã trở thành danh-từ chỉ một nhóm hoa có gai với nhiều màu sắc khác nhau (trắng, đỏ, vàng, nhung sậm...) chứ không nhất thiết phải màu hồng. Cái đỏ thắm xinh đẹp của màu hồng, không còn là ý-niệm (notion) của sự sáng chói, tươi-tắn, rực-rỡ, tin yêu...như câu hát ngày nào:

 

"Đời ta bao vui tươi như hoa hồng thắm..."

 

 Và, màu trắng trinh-nguyên, nguyệt-bạch, nó cũng không còn ý nghĩa trong sáng,  thơ ngây...như lời thơ của tuổi 20:

 

"Anh về giữa một dòng sông trắng,

Là áo sương mù, hay áo em?" (Thơ Nguyên-Sa)

 

Mà"hoa hồng trắng” bây giờ cài lên áo ai trong dịp lễ Vu-lan, trong "mùa Báo-hiếu"là ý niệm của sự mất-mát, chia lìa, xót thương, ngăn cách như đôi vợ chồng Ngâu, để cho đời sau có kẻ hát rằng:

 

"Một người ngồi bên kia sông im nghe nước chảy về đâu?

Một người ngồi đây, trông hoa trôi theo nước chảy phương nào?"("Hẹn hò" - nhạc Phạm-Duy)

 

"Về đâu?"và"phương nào?"là những câu hỏi chẳng bao giờ có câu trả lời thỏa đáng, là những than-van dấu kín không muốn gọi tên, của những người mất nhau đời-đời kiếp-kiếp. Sông Ngân trong"hoa hồng trắng"không còn là nơi hẹn-hò cố định từ cái chu-kỳ tháng 7 mưa bay, có nước mắt tỉ-tê gặp người hạnh-ngộ dù trong phút giây cũng cam lòng, như Ngưu-lang và Chức-nữ ngày xưa.Dẫu sao, chiếc cầu"Ô thước"cũng là cái gạch nối mang nặng Tình Người. Chỉ tội-tình cho những ai phải đứng bên này những yêu dấu, bị cách ly bởi những chấn song vô-hình mà vẫn phải nghe thấy nhau trong nỗi nhớ xa-xăm tháng ngày cúi mặt. Mẹ đã ở bên kia cuộc đời, mà vẫn âm vang như còn đây tóc trắng – hình ảnh cuối cùng con đã ghi dấu trong lòng như một "vết-thương-không-chịu-lành" mà con phải mang theo nơi trái tim rạn nứt của một kẻ lưu-vong lạc-loài trên đất khách có khi tưởng đã mất phương về!???Làm sao con quên được phút giây khi Mẹ già nua, đứng vin cửa, tay run-run nhìn con như một người rất lạ, sau 19 năm xa cách mà thời cuộc đã biến con thành "người-tù-rách-nát" đã tìm đường về nhà, như con chim tìm về tổ xưa của Mẹ nó, từ một vùng cực Nam đất nước, chỉ vì "món nợ" núi sông con đã lỡ gánh trên vai của người trai thời loạn...Đó là cuộc hạnh-ngộ tìm nhau, nhưng - thực ra, Mẹ đâu có biết rằng đó cũng là lần cuối cuộc đời "mẹ con" mình có nhau chỉ để vĩnh-ly miên-viễn sau đó hay không?Mẹ không biết,nhưng con thì biết nó rất rõ, vì con không dám nói thực cho Mẹ hay đó thôi, bởi con về thăm Mẹ lần này, là cốt chỉ để "từ biệt" Mẹ, thay cho những chuyến ra đi sắp tới mà con không ở cạnh Mẹ để nói lời cuối đó mà, mặc dù ngày xưa Mẹ vẫn hay mắng con là thằng"trớ trinh" - một hình thức dốI trá Mẹ rất ghét, khi con chỉ lén giấu những viên thuốc tể không muốn uống, rồI bóp bẹp chúng đút dưới ngạch cửa mà Mẹ tình cờ khám phá ra, nhưng con vẫn một mực gân cổ chối phăng đi tội nói dối bé thơ của mình để quả-quyết với Mẹ rằng: "Mẹ ơi, đó là cứt gà, chứ không phải thuốc tể đâu Mẹ!!"là loại thuốc có màu đen được vo tròn như hòn bi, dù có tẩm chút mật cho ngọt để dễ uống, nhưng con rất sợ vì nó vẫn hôi mùi thuốc Bắc quá, ruột nó đắng nghét nuốt không vô, bắt phát ói, đâu có được ngọt-ngào thơm-tho như những viên kẹo mè tẩm bột trắng phau gói trong những miếng lá chuối xanh, mà thỉnh-thoảng Mẹ cũng hay mua cho mấy anh em con từ ngoài chợ Huyện. Thế là ăn đòn nhừ tử về tội"phí của và nói dối". Vậy mà bây giờ con vẫn không chừa, dù trong trại Cải-tạo ngày nào mà con không được dạy-dỗ kỹ lưỡng như kinh nhật-tụng: "Các anh phải thành thực khai báo, thì sẽ được CM khoan hồng! CM thử lòng thành của mấy anh tới đâu đó thôi, chứ CM biết hết, biết hết mới thắng được thằng Mỹ đấy!?". Con đã "học-tập tốt"nên mới được về thăm Mẹ đó chứ!? Nhưng,Mẹ ơi, đôi khi sự "thành thực" của mình lại chỉ dẫn đến những tai-ương cho chính mình và có thể làm cho kẻ khác "đau" không phải trong một hai ngày mà là

suốt cả một đời người đó Mẹ -"Toute la vérité n'est pas bonne à dire" - không phải mọi sự thực đều nên nói ra, đó mà!? Con có thể nào nói "thực" với Mẹ lúc này, những gì con sắp làm trong nay mai được, bởi vì như vậy cũng bằng như con "giết" Mẹ mà thôi, giết một bà già từng đẻ ra thịt xương mình, nuôi mình lớn khôn, rồi cho học hành thêm chút chữ nghĩa với người ta, những mong cho mình "ấm thân" sau này, nhưng rốt cùng Mẹ đã chìm trong hơn mười mấy năm trời lửa đạn vây quanh, chỉ biết ngồi tựa cửa ngóng con, trái tim có lúc phảI muốn nhảy ra ngoài lồng ngực mỗi khi Mẹ chợt nghe những tiếng nổ ì-ầm rung lên trên từng mái rạ trong xóm nhỏ vốn đã xác-xơ từ lâu, mà "người đi" thì vẫn cứ biền-biệt không về - kể cả hai bên - vì chúng nó phải bận long-đong, có khi phải giết nhau để sống sót , mải trôi theo chiều dài oan-khiên của Mệnh Nước?

 

Tháng ngày nhỏ dại, từng muỗng cơm mẹ đút mệt nhoài, với những lời dỗ-dành mật ngọt:"Ăn đi, chóng ngoan, mẹ thương!"là những dấu ái tuổi thơ hiếm-hoi không bao giờ phai nhạt, lẫn với những răn đe khi con quay mặt đi cố tránh những muỗng cơm còn lên hơi ấm, bên giữa có miếng cá nhỏ được rút sạch xương, thì Mẹ lại gắt:"Hư, không chịu ăn, tau kêu chuột cắn bây chừ!". Lớn khôn hơn một chút chỉ có con "ngu", vẫn cứ muốn quanh-quẩn bên Mẹ hoài, trong khi các anh chị chỉ sợ Mẹ sai làm việc nhà, nên lại tìm cách rong chơi bên ngoài cho khoẻ, lại đỡ bị đòn những khi Mẹ bực sảng. Chỉ có con bên cạnh nên Mẹ hay sai con những việc lặt-vặt như: quét nhà, gãi lưng, bắt gió trên trán mỗi khi Mẹ bị nhức đầu, hay lúc may vá Mẹ hay nhờ con xỏ kim giùm Mẹ vì mắt Mẹ đã kém.Mỗi lần đi đâu ra ngoài Mẹ thường bảo con nhìn thử mặt Mẹ có dính lọ bếp hay

không vì ở nhà mình chỉ có một tấm kiếng treo tường nhưng con chim bồ câu vô tình bay va vào làm bể mất. Mẹ cũng hay sai con lấy cho Mẹ cái ghế đòn gỗ nhỏ thấp tè, để Mẹ ngồi xắt rau cho heo, hoặc Mẹ ra giếng để giặt áo quần...Nhưng con vui nhất là mỗi lần làm xong việc gì đúng như ý Mẹ muốn thì Mẹ đều cười, để lộ hàm răng đen nhánh hạt huyền khen con:"Giỏi!"và con đứng mừng rơn,hai tay ôm đầu, cũng cười nhe cả mấy cái răng cửa sún ra. Nhưng điều quan trọng

hơn lời khen ấy, đó là những dịp để con tự thấy con được "gần-gũi" Mẹ, dù Mẹ chẳng bao giờ vò đầu con một cách âu-yếm như vò đầu mấy đứa em con khi chúng nó ngả người vào lòng Mẹ nũng-nịu, với lời Mẹ nói nựng ngọt-ngào kéo dài ra như chừng cho chúng nó đủ thời gian uống hết những thân thương mà Mẹ riêng dành cho chúng nó bằng câu:"Mấy Út cưng của Mẹ ơi!"đến con nghe mà phát thèm, phát ước mơ. Chúng nó bao giờ cũng được ưu-đãi hơn con nhiều, chả bị đòn hay làm việc gì hết, quà thì chúng nó được phần lớn hơn mà thực tình con không hiểu được lý-do tại sao, với chút lòng ganh tỵ - đôi khi ra mặt, đến nỗi có lúc hờn dỗi Mẹ, nên con thường bỏ những bữa cơm như một thứ phản-đối mà Mẹ bảo con rằng:"Như vậy là xấu lắm, biết không?" nhưng "xấu" như thế nào thì Mẹ không bao giờ giải-thích cho con rõ, ngoài chuyện Mẹ chỉ bảo khơi-khơi rằng chúng nó là"em"thế thôi, làm cho con bối-rối không ít, rồi mơ hồ tự hỏi:"Như thế, làm em thì mới được Mẹ âu-yếm hay sao? Nếu vậy thì con không thèm được đẻ ra trước đâu!" như có lần con đã nói với Mẹ y vậy, nhưng Mẹ lại chỉ cười nhẹ và mắng con là:"Cái thằng này ngu và nhiều chuyện quá!" . Con thất vọng vô cùng, nên không muốn tìm hiểu làm chi nữa, rồi từ đó con tự cảm thấy buồn, lẫn cô-quạnh, vì như có cái gì đó “có chỗ không đành" trong suy nghĩ bé nhỏ của con, nhất là những đòn roi cho con ngày càng thêm lên, khi đời sống của gia-đình mình mỗi ngày một sa-sút đi nhiều hơn, cũng theo chiều dài của Lịch-sử mà chả ai lựa chọn được bao giờ....

 

Những kỷ-niệm tuổi thơ đó - với tôi, nó không nằm trong chiếc"hoa hồng trắng"vốn nhiều buồn tủi trên áo ai kia của"mùa Báo hiếu", nó cũng không nằm trong chiếc"hoa hồng đỏ" nồng-nàn, đầy hãnh-diện của những người còn Mẹ, mà nó nằm ngay trong trái tim tôi rạn nứt, mỏi-mòn...Tôi đã

sống như ý Mẹ tôi muốn ngay từ lúc bé:"Con trai phải mạnh bạo, phải phỉ chí tang-bồng, không được ủy-mị quanh-quẩn bên Mẹ hoài nó hèn-hạ đi, biết không?"  cộng với những la mắng tàn-tệ, đánh đập thường xuyên từ nhiều phía trong nhà, tôi như con kiến nhỏ bò trên miệng chén lửa, vì vậy, tôi đã muốn "ra đi" từ những ngày tôi còn tấm bé khi tôi tự thấy cái khoảng cách giữa tôi và

những thành viên trong gia đình ngày càng dài ra bằng những trận đòn khốc liệt, liên tục, chì-chiết thảm-thê, mà đôi khi tôi không rõ lý do, nói rõ ra rằng tôi không có"tuổi thơ!", là tuổi phải được cưng chiều, phải được âu-yếm, được vỗ-về mật ngọt, được nhỏng-nhẻo vòi-vĩnh và được tha-thứ mọi lỗi-lầm chứ không phải sự trừng phạt, xua đuổi trong sợ hãi, xa cách miên-man như con chó ghẻ trong nhà của một người chủ khó tính!??

 

Tôi là ngọn "cỏ bồng" chưa kịp trưởng thành đã chợt vút bay vào 4 hướng lạc loài theo sức đẩy của chiếc "cung dâu" là lời ước mơ của Mẹ tôi lúc đó. Tôi là con chim non đứng trên bờ tổ lặng nhìn những giông tố bão-bùng đang đón chờ mình ở cuối đường Định mệnh với đôi cánh nhỏ bé mong-manh - thực ra, không đủ sức để cưu-mang những rối-rắm của cuộc đời và tôi đã vấp ngã triền-miên như đứa trẻ con lần mò trên con đường lầy lội. Nhưng tôi đã không ân-hận và tiếc

nuối điều gì, bởi vì tôi tìm cách tự vỗ-về mình là tôi "lựa chọn" - lựa chọn khoảng trời xanh mênh-mang hơn là cái bờ tổ hạn-hẹp ...nơi đó tôi là con chim con "tật nguyền" (mà người ta vẫn thường gọi là"hư"hay"brebise galeuse" - chiên ghẻ, hoặc"black sheep" như ở đây) không được chia mồi bình thường...

 

Nhiều khi, tôi tự kiểm-tra lại đời mình coi thử mình "thừa thải" những gì và "hụt-hẫng" những gì trong khoảng đời sau lưng? Câu trả lời thường là nỗi lặng câm, kèm theo một nụ cười buồn khó hiểu. Trong tuổi thơ, tôi chưa bao giờ được cái hạnh-phúc của đứa trẻ tự choàng cho mình tấm áo mới, chưa bao giờ cảm nghiệm được nỗi reo vui của một chú bé con nhún-nhẩy cầm chiếc đèn giấy hoa nghêu-ngao đi trong phố hát rằng:

 

"Tết Trung Thu em xách đèn đi chơi,

Em xách đèn đi khắp phố phường,

Đèn ông sao với đèn cá chép"…

 

Mà chỉ có những "vạt lông bò" bám cứng vào đáy quần dày mo, lẫn với thứ mồ hôi đen kịt của loài thú hiền lành này chạy dọc xuống hai bờ chân, tạo thành một thứ mùi lợm giọng đến độ khi lớn khôn mỗi lần về phố phường rong chơi, tôi không còn dám ăn "phở bò" nữa, giống như những người lính trận còn sống sót trởvề sau những cuộc đụng độ, không dám ăn món “Cà-ri”, nếu như có lần, khi mặt trận yên tĩnh trở lại, mà họ đã tình cờ nhìn thấy đồng đội mình nằm chết dưới những hố cá-nhân máu thịt vàng khè hòa lẫn với những miếng da người cuốn cong lên như da bê thui, lẹm màu đen của thuốc đạn, khi tử-thi trước đó có mang trái khói vàng trên người, mà vô-phúc "lãnh đủ" một trái lựu đạn của địch thảy xuống! Chao ôi, thời thơ ấu của tôi!

 

Rồi những ngày lớn khôn, ít khi nào tôi gặp mặt được người thân, kể cả những lúc tôi đã phải gắng sức để trở"nên người"theo cái nghĩa phù-vân và tầm thường nhất của nó, mà người ta vẫn hay mong-mỏi hoặc nói đến một cách hãnh-diện về con em của mình ở các sân trường Đại-học, khi tôi chỉ tự choàng cho mình chiếc áo thụng đen, xong đội cái mũ vuông có tua trong ngày Tốt-nghiệp mà không hề có ai "đủ thân" để chứng-kiến những thành tựu - xét ra, đâu phải dễ-dàng gì, để tôi đủ niềm vui mà chụp một tấm hình kỷ-niệm, ghi dấu cho quãng đời học-hành khổ nhọc như mọi người, lẫn với những vinh-quang từ một ngôi trường mà không ít những người trẻ như tôi ước mơ thời đó!? Tôi lại càng không được trông thấy ai thân, ở những trại lính tôi chỉ toàn cơm "nhà bàn"quanh năm, mà có thể sự tử-sinh là những hứa-hẹn thê-thảm rình-rập cuối đường,thì mong gì được thấy ai ở bên kia bờ rào kẽm gai của trại tù để lòng đỡ tủi,khi tôi đã trở thành một người"ngã ngựa", vì món nợ núi sông tôi đã lỡvận vào người! Vậy thì "hoa hồng" nào dành cho tôi, hở em yêu dấu? Mẹ tôi đã không biết tôi ở"phương nào?"và đã"về đâu?"bên kia dòng sông Ngân vô-định. Mùa "Báo hiếu" này tôi sẽ làm gì cho Mẹ, giữa những ray-rứt không nguôi-ngoai, ray-rứt của những kẻ"vong nhân" ngay chính trên cuộc đời này trong mùa "xá tội":

 

"Tháng bảy ngày rằm xá tội vong-nhân"(Ca dao)

 

Tháng 7 này tôi không có "hoa hồng trắng", bởi vì tôi đã không được vuốt mắt mẹ tôi trong buổi lâm chung, có nghĩa là mẹ tôi - với tôi, bà vẫn còn sống. Tôi cũng chẳng có "hoa hồng đỏ", bởi vì tôi đâu "có mẹ" ngay từ buổi ấu thời, có nghĩa là - với tôi, bà đã không còn!? Tôi vẫn muốn tự nhủ mình rằng:"Vết thương nào rồi cũng phôi-pha!”. Thời-gian sẽ lấp đầy những khoảng trống trong hồn như những dòng phù-sa vô tình xoá đi những vực thẳm, nhưng cũng chính thời gian đã khoét sâu thêm những cơn đau, vì thời gian đã ôm chòang quá khứ được lặp lại trên những chu-kỳ gần như cố-định, mà loài người không muốn quên đi. Bởi vì họ không thể sống mà không có quá-khứ, được khơi lại một cách trịnh trọng bằng những lễ-nghi, nhất là ở một nơi - xét ra, họ chả còn gì để

bám víu, nếu không là quá-khứ. Mà quá-khứ, tự nó thường là những đau buồn, "hoa hồng trắng" làm cho nỗi nhớ tràn đầy và ray-rứt hơn là "hoa hồng đỏ".Phù-sa, có thể lấp đi những vực thẳm, nhưng phù-sa là phần bào mòn của một nơi khác, hẳn đã làm đau lòng sông không ít. Vậy thì niềm đau tự nó không mất đi mà nó chỉ chuyển dịch trên cơ thể của con người, vốn sức chịu đựng ngày càng mòn-mỏi. Vẫn cứ mùa Vu-Lan, mùa của những "bông hồng cài áo", để nhớ lại những

đôi mắt thực mềm của những người Mẹ thân yêu, dù còn sống hay đã chết. Đôi mắt của mẹ bao giờ cũng "mềm" và "ướt" như đôi mắt của em, nên đã có lần tôi ghi trong nhật-ký khi mới chỉ học lớp 10:

 

"Mẹ đã dạy con khóc,

Mà Mẹ lại không dạy con cười!

Lớn lên con trở thành người lang-thang..."(Thơ Nguyễn-Tư)

 

Hoặc như mới đây, mà tôi xem đó như một thứ "Dụ-ngôn của loài thú hoang":

 

"Em hãy cho tôi mượn đôi mắt của em,

Đôi mắt mang những giọt lệ mềm của Mẹ,

Để tôi hôn lên đó như một lời tạ lỗi,

Vì tôi đã làm khổ Mẹ tôi một đời!?...

Em hãy khóc giùm tôi một thời,

Vì tôi đã bỏ nhà mười chín năm ròng-rã...

Khi trở về từ trại tù,

Thì mắt Mẹ tôi đã lòa,

Không còn nhận ra tôi là ai?

Ngoài cái giọng nói "ngang-ngang",

Của "thằng mất dạy!",

Mà bà phải cố thương yêu,

Vì đã lỡ mang nặng đẻ đau,

Để sản-sinh ra nó!?..." (Thơ Nguyễn-Tư)

 

Bởi vì "Mẹ" hay "em" đều là những người đàn bà - loại người được trời sinh ra với những tuyến lệ thực lớn để chịu đựng cuộc đời, trong đó hẳn có tương lai mờ-mịt của những đứa con, nhất là trong thời buổi đao-binh:

 

"Ru con mắt chảy hai hàng,

Nuôi con càng lớn mẹ càng thêm lo" (Ca dao)

 

Cuộc chiến tương-tàn càng khốc-liệt, mẹ đông con, nên nỗi lo mẹ càng nhiều, càng rộng. Mẹ chẳng bao giờ ngủ được yên khi giữa đêm bỗng dưng mẹ chợt nghe "Tiếng bom rung từng liếp cửa"( NhạcTrịnh-Công-Sơn) vì nơi đó có thể đang có mặt những thằng Sáu, thằng Chín, thằng Mười của Mẹ...mà Lịch sử đã vô tình biến chúng nó thành những "kẻ thù" không thấy mặt nhau!? Mẹ sẽ nhạt-nhoà nước mắt, khoác vội chiếc áo the thâm rách tả-tơi, tay cầm nắm nhang bốc khói

ngùn-ngụt, lọng-cọng ra đứng giữa sân khuya, chắp tay vái đi khắp bốn phương Trời, mười phương Phật với ý-nguyện thầm kín nhất của một người đàn bà Việt nam, đã từng mang nặng đẻ đau nhiều lần, là chỉ mong sao cho những đứa con bà đang đánh nhau, chúng nó được bình yên. Điều này được biểu lộ rõ ràng trong lần về phép của con, mẹ đã trao cho con món quà lạ-lùng nhất của một bà Mẹ trong thế-giới loài người, là chiếc áo giáp nhà-binh rộng phùng-phình mẹ đã

mua ở một khu chợ trời, từ một số tiền mẹ phải góp-nhóp lần hồi mới đủ, trong một khoảng thời gian khá dài lâu, bằng cách Mẹ kiên-nhẫn bán những thúng trái cây òi-ọp mẹ hái trong vườn, mà đạn bom đã tàn phá hơn phân nửa. Như vậy là người đã nuôi cây, và cây cũng đã nuôi người, vì nhờ chiếc áo giáp tình-nghĩa thiêng-liêng đó mà con mới sống được cho đến bây giờ, dù lúc này mẹ đã không còn nữa! Con nhớ rõ lời mẹ dặn rất thiết-tha khi mẹ trao chiếc áo giáp cho con

như một lời nhắn-nhủ tử sinh muốn con không được phép chểnh-mảng về mạng sống của mình khi lâm trận:"Con đừng bao giờ quên rằng Mẹ chỉ có thể đẻ con ra được có một lần mà thôi" vì Mẹ vốn biết con là thằng rất lì lợm, dạy không được ngay từ lúc bé, và ít khi quan-tâm tới bản thân mình, còn coi nhẹ mọi chuyện ở đời như chẳng có gì quan-trọng, kể cả mạng sống của chính mình! Nghe nói trước khi mất, trong giờ phút hấp-hối, Mẹ chỉ ước có 2 điều: một là Mẹ muốn biết rõ hiện giờ con ở đâu, mà không chịu về cho Mẹ thăm lần cuối!? Điều mơ ước thứ hai là Mẹ muốn được an-táng ở một nơi gần với 2 ngôi mộ của 2 người anh song-sinh đã mất cách nhau có một ngày khi họ mới vừa nên 4, mà mọi người trong nhà đều giấu Mẹ chỉ vì lúc đó Mẹ đang sinh người chị thứ Năm, sợ Mẹ bị bịnh "sản hậu" mà chết mất. Mẹ muốn nằm giữa 2 ngôi mộ nhỏ tí teo, như thủa Mẹ mới sinh ra 2 anh ấy, mà Mẹ sợ lộn, nên Mẹ tự bứt tóc mình cột vào cổ tay của

anh Ba và đặt anh ấy phía bên tay mặt của Mẹ như Mẹ đã kể với con. Mẹ cũng đã lấy 2 cuống rốn khô cột lại với nhau, gói trong cùng một miếng giấy, với niềm mong ước rằng anh em sẽ phải biết yêu thương nhau sau này như con của bà Âu-Cơ và ông Lạc-Long trong cổ sử vậy. Không hiểu lúc ấy, Mẹ có nhớ ra cho rằng, trong 50 đứa con theo Cha xuống biển, có một đứa vì quá thương Mẹ, nên nó đã trụt lại phía sau để tìm Mẹ nó hay không? Rồi nó bị lạc, trôi giạt lên mãi tận

miệt Bắc-ninh(?) sống một mình, lập-nghiệp luôn ở đó. Có phải người đó là tiền thân của con hay không? - đứa con chỉ xin được ngủ dưới chân Mẹ thôi cũng cam lòng, sau khi đã bị nhừ đòn, bị tống khứ ra hè trong đêm giông bão dưới cơn thịnh nộ của trời đất vào một mùa Đông thủa ấy xa-xưa, chỉ vì Mẹ muốn con trở "nên người". Con đã lạc Mẹ ở ngần ấy tuổi, tuổi của loài chim non, cần sự ấp-ủ, che chở, từ đôi cánh và hơi ấm của Mẹ nó. Và, vào một buổi sáng bình minh, đứng trên bờ tổ, nó ngây thơ nhìn khoảng trời rộng trước mặt với nỗi ngập-ngừng e sợ. Thế nhưng khoảng trời xanh đầy mộng-mị đó, thấp-thoáng với những buồn tủi riêng mình, hốt-nhiên nó đã vỗ cánh bay cao...bay cao đến cuối trời u tối, như một mũi tên vô-định, mà cái đích sau cùng - đôi khi, chỉ là những ăn-năn lúc nó chợt cảm-nghiệm ra rằng: dường như nó đã là một phần trong

nỗi đau cuối đời của Mẹ nó, như con đã vô tình trở thành điều ước mơ thứ nhất của Mẹ trong buổi lâm chung...

 

Tôi đã viết bài này vào một đêm khuya trong mùa "Xá tội", với đôi mắt long-lanh những giọt đắng, mà tôi cố nén cho chúng chảy ngược vào lòng. Và dường như vừa có một chuyến tàu vội-vã chạy qua cây cầu phía sau nhà, thở những hồi còi dài buồn trong sương đục, nhưng lòng tôi lại tỉnh-táo lạ thường, bởi vì tôi đang muốn nhìn thấy rõ lòng mình còn cầm giữ được những gì, và đã mất-mát những gì, dù những phiến buồn cứ dính chặt vào quá-khứ như một thứ nhựa đường nóng bỏng trong những câu thơ mà tôi nhớ mù mờ như hơi sương:

 

"Lửa đến từ những ngưỡng cửa của cuộc đời,

Đốt cháy mười đầu ngón tay bằng những khối nhựa đường nóng bỏng"

 

Hỡi em yêu dấu! Hỡi Mẹ không cùng! Tôi yêu em một lần như yêu Mẹ một đời, bởi vì em có đôi mắt ướt giống đôi mắt của Mẹ tôi, đôi mắt buồn quá đỗi, buồn như thể chưa được buồn bao giờ! Tôi chả có được "nụ hồng" nào cho em, cho Mẹ, bởi vì tôi đã không có Mẹ, không có Em, mà vẫn phải nghĩ rằng mình có Mẹ, có Em. Thôi thì, hãy chọn một giây phút nào đó trong cuộc đời vốn hệ-lụy, phù-du này mà nghĩ tới nhau, dù có phải đối-diện với khoảng không, với đêm đen trước mặt trong mùa Xá tội, nhưng với tấm lòng bao dung của con người, mọi chuyện đều sẽ trở thành Hạnh-phúc - Hạnh-phúc của những kẻ tự thấy mình cũng phảI "sống" ,sau khi đã"chết"và chết nhiều lần. Từ ngữ"Hạnh-Phúc"của kiếp người, thực sự, nó không nằm ở chỗ"được"hay "mất"mà ở chỗ "có nhau", hay "không có nhau", thì kể gì một nụ hồng "trắng" hay "đỏ" trong cuộc đời đầy bạc-bẽo này, để cài lên ngực áo của những ai kia, mà bên dưới có nhịp đập âm-thầm của những con tim...khi mình đã lỡ "nặng tình" nhau,dù không trọn vẹn...

 

              (Trích "Những dòng rời cho Mẹ", tâm-bút Nguyễn-Tư, sắp XB)

 

end faq